Viện sinh thái nhiệt đới, trung tâm Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga thực hiện chuyến công tác nghiên cứu đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bái Tử Long
14/05/2025 07:46:03 PM
Từ ngày 28/04 đến ngày 11/05/2025, Viện Sinh thái Nhiệt đới, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đã tổ chức chuyến công tác thực địa tại Vườn quốc gia Bái Tử Long (tỉnh Quảng Ninh), trong khuôn khổ đề tài: “Nghiên cứu đa dạng sinh học và sinh thái, tổ chức cấu trúc - chức năng của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới, phục vụ bảo tồn, phục hồi và sử dụng bền vững”. Đây là một phần trong chuỗi khảo sát tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên tiêu biểu như Bát Xát, Tràm Chim, Pù Luông, Cúc Phương, An Toàn, Bắc Hướng Hóa, Sao La, Yok Đôn, Phước Bình, Cà Mau, các khu bảo tồn thiên nhiên tỉnh Sơn La (Tà Xùa, Sốp Kộp, Xuân Nha), Hà Giang (Hoàng Su Phì), Gia Lai (huyện Chư Prông, Chư Pứh, Chư Sê, Ia Pa) và Thanh Hóa (Thạch Thành).
Đồng chủ nhiệm đề tài là Đại tá, GS.TS. Nguyễn Đăng Hội và kỹ sư Kuznetsova S.P. Thành phần đoàn gồm các chuyên gia đến từ Viện Sinh thái Nhiệt đới, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Trung tâm Giáo dục và Phát triển Bền vững, Đại học Tổng hợp Quốc gia Moskva, Viện Nghiên cứu Sinh thái và Tiến hóa, Bảo tàng Động vật Lomonosov.

Hình ảnh Đoàn công tác và Kiểm lâm viên Vườn quốc gia Bái Tử Long thực hiện chuyến khảo sát tại Đảo Ba Mùn
Kết quả sơ bộ trong đợt khảo sát tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long gồm 7 nội dung chính:
1. Nghiên cứu địa chất và yếu tố sinh thái phát sinh:
Xác định thành phần thạch học và cấu trúc địa chất đặc trưng tại khu vực khảo sát, đồng thời ghi nhận đặc điểm địa hình, cảnh quan vùng chân đảo và vùng triều – nơi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tương tác thủy văn - hải văn.
2. Nghiên cứu khu hệ lưỡng cư - bò sát:
Giai đoạn khảo sát vào mùa khô, lượng mưa không đáng kể, mặc dù hoạt động của bò sát và đặc biệt là lưỡng cư còn thấp nhưng đã ghi nhận được: Lưỡng cư (Anura): 7 loài; Bò sát: 21 loài; Thằn lằn (Sauria): 12 loài.
Đồng thời đoàn đã quan sát được sinh sản của một số loài Polypedates megacephalus, Theloderma albopunctatum (Rhacophoridae), Sylvirana guentheri (Ranidae) và tắc kè Gekko chinensis (Gekkonidae); Phân loại chưa rõ ràng ở một số loài (chi Argyrophis, Sylvirana), cần xác minh bằng phương pháp phân tử.

Hình ảnh một số loài bò sát và lưỡng cư tại Vườn quốc gia Bái Tử Long
3. Khu hệ động vật đất:
Kết quả phát hiện 10 dạng hình thái (morphospecies) cuốn chiếu.
Về khu hệ rết tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long đã ghi nhận được 14 loài và dạng loài thuộc 8 giống, 7 họ, 4 bộ rết. Các mẫu vật của các loài này sẽ tiếp tục được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để xác định đến loài.
4. Khu hệ thú nhỏ và dơi:
Ghi nhận 4 bộ thú nhỏ: Bộ Gặm nhấm (Rodentia) , Bộ Ăn sâu bọ (Eulipotyphla), Bộ Móng guốc (Ungulata), Bộ Linh trưởng (Primates).

Bẫy ảnh ghi nhận loài Nhím tại VQG Bái Tử Long
Đối với dơi (Chiroptera): tổng số 9 loài được xác định, thuộc 3 họ. Mật độ cá thể trung bình cao.

Hình ảnh một số loài Dơi tại Vườn quốc gia Bái Tử Long
5. Khu hệ thực vật:
Khảo sát thực vật hạt kín (Angiospermae) nhằm lập danh lục thành phần loài. Ghi nhận 83 đơn vị phân loại thuộc 43 họ. Mẫu vật được thu thập để nghiên cứu hệ thống học chuyên sâu.
6. Khu hệ nấm:
Thời tiết khô hạn trước và trong giai đoạn khảo sát dẫn đến đa dạng nấm lớn rất thấp, đặc biệt tại khu vực đá phiến khô. Số lượng loài ghi nhận được hạn chế, chủ yếu tập trung dọc các lối đi và khu vực ẩm ướt hơn trong các hang karst. Ghi nhận được các loài thuộc các nhóm: Nấm phân hủy gỗ (Lignicolous fungi), Nấm phân hủy thực vật (Phylloplane & twig fungi) và Nấm đất (Epigeous fungi). Ngoài ra, đoàn đã thu thập 40 mẫu từ ba sinh cảnh chính: 1- sườn núi đá phiến, 2- thung lũng karst, 3- rừng ngập mặn ven biển, các mẫu sẽ phân lập để thu lấy nấm từ đất và thảm mục để nuôi cấy thuần chủng, xác định thành phần loài.
7. Khu hệ chim:
Ghi nhận 73 loài chim thuộc 37 họ, trong đó 3 loài chỉ ghi nhận tại đảo Trà Ngọ. Chủ yếu là các loài chim rừng đất thấp và rừng núi thấp, phổ biến tại miền Bắc Việt Nam, có tính liên kết sinh học với các hệ sinh thái phía Nam và miền Trung.
Ghi nhận 2 loài có tình trạng bảo tồn đặc biệt:
-
Egretta eulophotes (Cò thìa – IUCN VU)
-
Emberiza aureola (Sẻ đồng vàng – IUCN CR)
Trong khu vực nghiên cứu ghi nhận sự phong phú của các loài chim nhỏ ở tầng rừng giữa và tầng rừng thấp do có lượng lớn cây ăn quả phân bố tại Vườn quốc gia Bái Tử Long, tuy nhiên điểm đáng chú ý là sự đa dạng của các loài chim thường gặp ở phần trên của tán cây lại tương đối thấp. Các loài chim phân bố tầng trên của tán cây như sáo, vàng anh, đại diện của các họ Chloropseidae, Irenidae, Campephagidae đều không ghi nhận tại địa điểm nghiên cứu.
Chuyến công tác tại Vườn quốc gia Bái Tử Long đã mang lại những kết quả bước đầu quan trọng, góp phần làm rõ hiện trạng đa dạng sinh học và đặc điểm sinh thái của các hệ sinh thái đặc thù ven biển, đảo và vùng đất thấp phía Bắc Việt Nam. Các số liệu, mẫu vật và thông tin thu thập được sẽ tiếp tục được các thành viên trong đoàn công tác của Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga xử lý, phân tích chuyên sâu trong phòng thí nghiệm nhằm phục vụ cho các nghiên cứu hệ thống học, phân tử, sinh thái học và bảo tồn.
Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga đã gửi lời cảm ơn sâu sắc trước sự hỗ trợ, tạo điều kiện của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, các sở, ban ngành liên quan; đặc biệt là Ban Quản lý Vườn Quốc gia Bái Tử Long đã phối hợp chặt chẽ, giúp đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn trong điều kiện thực địa phức tạp. Những kết quả đạt được sẽ đóng góp thiết thực vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ chiến lược bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái rừng nhiệt đới tại Việt Nam trong tương lai.
Tác giả: Đào Thu Thủy
Lượt xem: 174
|